Vị trí của các huyệt đạo trên cơ thể con người - Công ty CP Dược Mỹ Phẩm TMD

Vị trí của các huyệt đạo trên cơ thể con người

huyệt đạo

Con người sinh ra ai cũng đều có các huyệt đạo trên cơ thể, mỗi huyệt đạo lại có một công dụng và chức năng riêng biệt, điều trị bệnh bằng châm cứu huyệt đạo là một trong những phương pháp chữa bệnh cổ truyền của Đông y. Nếu nắm rõ tất cả vị trí và công dụng của từng huyệt đạo trên thì ta có thể tự chăm sóc bản thân hay gia đình mỗi khi gặp vấn đề về sức khoẻ bằng cách bấm huyệt hoặc châm cứu.

1, Giải thích khái niệm về huyệt đạo

Huyệt đạo có nhiều tên gọi khác nhau như: du huyệt, khí huyệt, cốt huyệt,… nhưng huyệt đạo vẫn là tên gọi được dùng nhiều nhất. Có nhiều định nghĩa về huyệt đạo nhưng theo ghi chép từ cuốn Linh khu thiên thập nhị nguyên thì đó là nơi để lưu thông thần khí ra và vào cơ thể. Chúng phân bố khắp phần ngoài của cơ thể, liên hệ trực tiếp với các cơ quan nội tạng bên trong và các đường kinh mạch nên nhờ việc này, ta có thể chẩn đoán và điều trị bệnh của đường kinh tương ứng mà chúng phụ thuộc vào.108 huyệt đạo trên cơ thể

2, Phân biệt các huyệt đạo

Trên cơ thể của chúng ta có 365 huyệt đạo, trong đó có 257 tiểu huyệt, 108 đại huyệt. Đặc biệt, trong số 108 đại huyệt trên cơ thể có đến 36 điểm là tử huyệt – những huyệt này có thể dẫn có thể tới tử vong hoặc nguy hiểm nếu bạn tác động không đúng cách.

Theo Y Học Cổ Truyền thì cơ thể con người có 12 đường kinh chinh, 8 mạch , 12 kinh biệt và lạc mạch, các kinh mạch này nối tiếp với nhau để trở thành một hệ thống và liên hệ chặt chẽ với nhau để bảo vệ cơ thể. Các huyệt được chia làm ba nhóm chính đó là huyệt trên đường kinh, huyệt ngoài đường kinh và các huyệt tại chỗ đau hay còn được gọi là Á thị huyệt.

2.1, Huyệt đạo nằm trên đường kinh

Huyệt đạo của kinh nằm trên 12 kinh chính và 2 mạch Nhâm, Đốc. Những huyệt này có vai trò quan trong hơn so với các huyệt vị khác trong chẩn đoán và điều trị bệnh. Các huyệt này được nối liền với 12 đường kinh chính đó là Kinh thủ Thái âm phế,  Dương minh đại trường, Thiếu âm tâm, Thái dương tiểu trường, Thái âm Tỳ,  Dương minh Vị, Thiếu âm Thận,  Thái dương Bàng quang, Quyết âm Can, Thiếu dương Đởm, Quyết âm, Tâm bào, Thiếu dương, Tam tiêu và 8 mạch kỳ kinh là Đốc mạch, Nhâm mạch, Xung mạch (gồm xung mạch và nhâm mạch), Đới mạch, Âm kiểu mạch., Dương kiểu mạch, Âm duy mạch, Dương duy mạch. Mỗi điểm có một hiệu ứng khác nhau về khí khi đi qua nó.

2.2, Huyệt đạo nằm ngoài đường kinh

Còn được gọi là huyệt ngoài kinh hay ngoại kỳ huyệt. Những huyệt đạo này nằm ngoài 12 kinh chính. Tuy nhiên, cũng có một số huyệt đạo thuộc nhóm này nằm trên đường tuần hoàn của mạch kinh chính. Đây là huyệt đạo có vị trí nằm ngoài 12 kinh chính, các loại huyệt đạo này được các công trình nghiên cứu hiện đại phát hiện ra. Huyệt ngoài kinh phải đáp ứng đủ các tiêu chí đánh giá như phải là những huyệt thông dụng, có hiệu quả trị liệu lâm sàng, có vị trí giải phẫu rõ ràng và phải cách tối thiểu huyệt kinh 0.5 thốn. Theo nghiên cứu thì có 48 huyệt ngoài kinh đáp ứng được các tiêu chí này và phân bố ở nhiều vị trí khác nhau trên cơ thể.

2.3, Huyệt ở các chỗ đau ( Á thị huyệt )

Còn có các tên gọi khác như Áp Thống Điểm, Bất Định Điểm, Thiên Ưng Huyệt. Những huyệt này thường không nằm ở vị trí cố định, đôi lúc có thể nằm trên đường kinh hoặc ngoài đường kinh. Chúng chỉ xuất hiện ở những chỗ đau, được xác định bằng cách ấn vào vùng đau, nơi nào đau nhất thì đó là huyệt Á thị,.

3, Cẩn trọng với các huyệt tử đạo trên cơ thể

Có 36 tử huyệt trên cơ thể, có những huyệt rất khó tiếp cận hay là đánh trúng, hoặc chúng nằm ở những nơi rất kín đáo ví dụ như : Trường cường ( nằm ở cuối xương cụt ), dũng tuyền ( Dưới lòng bàn chân)… những huyệt như vậy tuy có nguy hiểm nhưng rất dễ bảo vệ. Còn 1 số huyệt nguy hiểm lại nằm ở những vị trí rất thoáng như đỉnh đầu, ngực, lưng…36 tử huyệt nguy hiểm

3.1, Huyệt Bách hội

Huyệt bách hội còn có tên gọi khác là huyệt tam dương, thiên mãn, quỷ môn, dương ngũ hội, duy hội, thiên sơn, nê hoàn cung, điên thượng. Nó là huyệt thứ 20 trong 28 huyệt của đường kinh mạch đốc (nằm dọc cột sống, tác động đến dương khí toàn thân).

Vị trí: nằm ngay ở đỉnh đầu, là điểm lõm chính giữa đỉnh đầu, giao giữa đường chạy dọc cơ thể và đường nối hai đỉnh vành tai hoặc giữa 2 đỉnh vành tai với đường chính cung.

Khi bị điểm trúng: Sẽ choáng váng, ngã xuống đất bất tỉnh nhân sự.

3.2, Huyệt Thần đình

Huyệt thần đình hay còn có tên gọi khác là phát tế, hay trung y cương mục, là huyệt số 24 trong 108 huyệt đạo trên cơ thể, nó nằm ở vị trí chính giữa phía trước tóc, coi như cửa đình nên có tên gọi là thần đình.

Vị trí : phía sau chân tóc trán 0,5 thốn, hoặc có thể đo thẳng từ ấn đường lên 3,5 thốn.

Khi bị điểm trúng: Sẽ gây tổn thương cho não, khiến nguyên thần tán loạn… có thể dẫn đến tử vong.

3.3, Huyệt Thái dương

Còn có tên gọi khác là Du huyệt và khổng huyệt, là vùng trống nằm trên vị trí các đường kinh hay ngoài kinh với vai trò giúp thúc đẩy quá trình trao đổi, tiếp nhận năng lượng của cơ thể từ thiên nhiên bên ngoài.Trong đó Huyệt Thái Dương thuộc 1 trong 36 huyệt đạo quan trọng của cơ thể có nguồn gốc từ Thánh Tế Tổng Lục với đặc tính nổi bật là kỳ huyệt.

Vị trí: tại chổ lõm phía đuôi chân mày.

Khi bị điểm trúng: Sẽ choáng váng, mắt tối lại, ù tai.

3.4, Huyệt Phong thủ

Huyệt được coi là nơi (phủ) gió (phong) tập trung vào, vì vậy gọi là Phong Phủ. Còn có tên gọi khác là Nhiệt Phủ, Qủy Chẩm, Qủy Huyệt, Qủy Lâm, Tào Khê, Thiệt Bản. Là huyệt thứ 16 của mạch Đốc

Vị trí: Chỗ lõm giữa gáy và ở trên chân tóc gáy 1 thốn. Giữa khe của xương chẩm và đốt sống cổ thứ I. Khi cúi đầu, gân cơ thang nổi lên ở chỗ bám vào hộp sọ, khi ngửa đầu, chỗ khe xương lõm xuống, có thể sờ được đáy hộp sọ, huyệt ở chỗ lõm giữa 2 cơ thang, ngang với đáy hộp sọ.

Khi bị điểm trúng: Sẽ dễ tổn thương tiểu não dẫn đến ngất xỉu, có thể tử vong

3.5, Huyệt Đản trung

Huyệt Đản Trung là một trong số 108 huyệt trên hệ thống huyệt đạo của cơ thể. Người ta còn gọi với một số tên khác như Nguyên Kiến, Thượng Khí Hải, Đàn Trung,… nhưng cái tên được biết đến nhiều nhất là Đản Trung.

Vị trí: Nằm trên điểm giao nhau giữa đường dọc xương ức với đường ngang qua 2 đầu núm vú, đối với đàn ông. Với phụ nữ, có thể xác định huyệt thông qua đường ngang qua bờ trên hai khớp xương ức thứ 5 trên cơ thể.

Khi bị điểm trúng:  Sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự hoạt động của tim, mạnh có thể gãy xương ức, gây nên rối loạn cho khí huyết trong cơ thể, nguy hiểm đến tính mạng

3.6, Huyệt Cự khuyết

Huyệt Cự Khuyết có nguồn gốc từ Thiên ” Kinh Mạch”  tức Linh Khu 10. Huyệt còn có tên gọi khác như cự khuyết, juque. Đây là huyệt thứ 14 thuộc Nhâm mạch tức CV 14 .Ngoài ra, huyệt cự khuyết còn là nơi mà  khí của Tâm hợp với mạch Nhâm.

Vị trí: Rốn thẳng lên 6 thốn, dưới huyệt Cưu Vĩ 1 thốn.

Khi bị điểm trúng: Sẽ gây ảnh hưởng đến tâm và vị khiến khí nghịch lên có thể nôn hoặc nôn ra máu nặng hơn nữa có thể gây tử vong.

3.7, Huyệt Thần khuyết

Tên gọi Huyệt Thần Khuyết đó là: Huyệt ở ngay lỗ rốn (khuyết), được người xưa coi là nơi chứa thần khí của con người, vì vậy gọi là Thần Khuyết hoặc Khí Hợp, Khí Xá, Tề Trung. Nó là huyệt thứ 8 của mạch Nhâm, là nơi tập trung của khí

Vị trí: Nằm ở chính giữa lỗ rốn

Khi bị điểm trúng: Khiến khí bị thương mà chạy toán loạn có thể nguy hiểm đến tính mạng

3.8, Huyệt Quan nguyên

Huyệt Quan Nguyên là huyệt đạo thuộc hệ thống 36 huyệt đạo quan trọng nhất trên cơ thể người. Huyệt vị này có rất nhiều ứng dụng trong y học và có tác dụng rất nhiều trong việc chữa trị các căn bệnh phổ biến hiện nay.

Vị trí: Đặt 4 ngón tay lên bụng ở phần rốn, ngón trỏ chạm rốn. Vị trí của ngón út chính là huyệt Quan Nguyên.

Khi bị điểm trúng: Gây tổn thương nguyên khí, khiến cho con đường ra vào của nguyên khí bị tắc nghẽn, mạnh có thể gây vỡ bàng quang ( khi trong bàng quang có nước tiểu ) có thể dẫn đến tử vong.

3.9, Huyệt Chương môn

Huyệt Chương môn là huyệt thứ 13 thuộc Túc Quyết âm Can kinh. Huyệt còn được gọi với các tên khác như Trường bình, Lặc liệu, Quý lặc. Lấy tên chương môn bởi chữ “chương” có nghĩa là sáng sủa, rõ rệt, rõ ràng, phân minh, chữ “môn” có nghĩa là cửu. Mà huyệt là hôi của tạng và là cửu của 5 tạng cho khí xuất nhập, do đó huyệt có tên là Chương môn.

Vị trí:  Ở ngang rốn, huyệt Đại hoành ngang ra đầu mỏm xương sườn cụt 11 (Giáp ất, Đồng nhân, Phát huy). Phía ngoài huyệt Đại hoành trên rốn 2 tấc, ở đầu xương sườn, dưới bờ sườn ( Đại thành). Lấy ở dưới đầu tự do của xương sườn cụt số 11.

Khi bị điểm trúng: khi bị đánh trúng gây tổn thương đến ngũ tạng, rối loạn chức năng sinh lý của các tạng, hoặc có thể gãy xương sườn, rất nguy hiểm.

3.10, Huyệt Phế du

Huyệt Phế du còn được gọi là Phế du huyệt, ngoài ra còn có thể gọi là huyệt phổi do vị trí của huyệt nằm gần phổi. Tên Phế du huyệt ta có thể hiểu “phế” là phổi, “du” là đưa khí vào bên trong tạng phế. Huyệt Phế du là huyệt thứ 13 vùng Bàng Quang Kinh. Huyệt được xem là huyệt Du Bối của Phế Khí với tác dụng phân tán dương khí của phổi. Huyệt Phế du nằm trong nhóm huyệt tán dương khí lục phủ ngũ tạng.

Vị trí: Huyệt phế du nằm ở phía dưới gai đốt sống lưng số 3, sau đó đo sang ngang khoảng 1.5 thốn, huyệt đạo này nằm ở ngang với vị trí huyệt Thân Trụ.

Khi bị điểm trúng: Sẽ làm tổn thương tạng phế, rối loạn chức năng hô hấp, nặng có thể gãy xương sườn, gây Khó thở, ho ra máu, ngất xỉu…

3.11, Huyệt Tâm du

Huyệt đạo này có khả năng đưa khí vào bên trong tạng Tâm. Du có nghĩa là đi vào, do vậy tên của huyệt này là Tâm Du. Tên gọi khác là Bối Du hoặc Cứu Lao, là huyệt đạo thứ 15 của kinh Bàng Quang

Vị trí: Nằm ở dưới gai sống lưng số 5, đo ngang ra 1, 5 thốn.

Khi bị điểm trúng: Sẽ làm tổn thương đến tạng tâm ( tim ) và phế ( phổi ), rối loạn hệ tuần hoàn, nặng có thể gãy xương sườn, gây ho hoặc nôn ra máu, khó thở…

3.12, Huyệt Thận du

Huyệt Thận Du là một trong số 36 huyệt đạo quan trọng trên cơ thể con người có nguồn gốc từ Thiên Bối Du tức liên khu 51. Trong đó, bởi huyệt chịu trách nhiệm chi phối luồng khí lưu thông, vận hành ra vào trong cơ thể hay còn được gọi là Du, cùng với đó huyệt Thận Du còn đảm nhiệm chức năng chi phối việc rót kinh khí vào trong tạng Thận. Vì vậy huyệt có tên gọi là Thận Du.

Vị trí: Nằm cách 1,5 khoát ngón tay từ bên ngoài đường giữa sau, ở mức độ của đường viền dưới gai đốt sống thắt lưng thứ 2 (L2).

Khi bị điểm trúng: Sẽ làm rối loạn chức năng của tạng thận, rối loạn hệ bài tiết, dẫn đến bí tiểu, tiểu ra máu…

3.13, Huyệt Túc Tam Lý

Trong các truyền thuyết, ý nghĩa tên huyệt được hiểu theo cách việc châm cứu bấm huyệt Túc Tam Lý sẽ giúp cho các binh lính đi bộ được hơn 3 dặm (gọi là Tam Lý) mà không bị mệt mỏi. Các nhà y học cổ truyền khác lại cho rằng tên gọi này có ý nghĩa là nơi hội tụ đầy đủ của 3 phủ chính bao gồm Đại Đường (nằm phía trên), Vị (nằm ở giữa) và Tiểu Trường (nằm ở dưới) .

Vị trí: Huyệt đạo nằm ở chân (túc), đây là vị trí có 3 (tam) phủ hội tụ, Đại Trường (trên), Vị (giữa), Tiểu Trường (ở dưới). Bên cạnh đó, 3 phủ này đều nằm bên trong (lý), nên được gọi là Túc Tam Lý.

Khi bị điểm trúng:  It nhiều gây ảnh hưởng đến cơ thể nhưng khi bị đánh trúng với 1 lực tương đối mạnh và chuẩn xác mới gây tử vong, đa số là được những võ sư tập luyện lâu năm sử dụng để hạ gục đối thủ trong lúc gặp nguy hiểm.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Chat Facebook
0586.799.799